Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh thăm các mô hình giống lúa mới kháng bệnh bạc lá và giống lạc kháng bệnh đốm muộn tại Nghệ An.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh thăm các mô hình giống lúa mới kháng bệnh bạc lá và giống lạc kháng bệnh đốm muộn tại Nghệ An.
Ngày 12/5/2020, thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê  Quốc Doanh và các đại biểu Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nghệ An đã đến thăm các mô hình giống lúa mới chất lương kháng bệnh bạc lá QS88 (DT88), giống lúa chất lượng cao CNC11 tại huyện Hưng Nguyên (20 ha/mô hình) và các giống lạc kháng bệnh đốm muộn ĐM1, ĐM4 tại huyện Diễn Châu, Nghệ An.
Tại buổi làm việc, đại diện Viện Di truyền Nông nghiệp (cơ quan tác giả của các giống cây trồng mới), GS.TS. Lê Huy Hàm – chủ tịch Hội đồng Khoa học, GS.TS. Phạm Xuân Hội, Viện trưởng Viện DTNN đã báo cáo thứ trưởng cùng đoàn công tác về các đặc điểm nông sinh học chính, vai trò của công nghệ sinh học trong chọn tạo và phát triển giống mới; về các giống lúa, lạc… mới được chọn tạo của Viện DTNN nhờ ứng dụng chỉ thị phân tử từ các đề tài thuộc chương trình Công nghệ Sinh học Nông nghiệp và ứng dụng năng lượng nguyên tử gây tạo đột biến phục vụ chọn tạo giống mới.
Thứ trưởng Lê Quốc Doanh và đại biểu các ban, nghành đã đánh giá cao việc nghiên cứu chọn tạo các giống lúa, lạc… mới năng suất, chất lượng, chống chịu sâu bệnh hại và các điều kiện bất thuận, ứng phó tình hình biến đổi khí hậu hiện nay. Thứ trưởng cũng nhấn mạnh vai trò của các công ty giống cây trồng, địa phương trong việc phối hợp phát triển các giống cây trồng mới, nhất là các giống cây trồng được chọn tạo phù hợp với tình hình thực tiễn sản xuất và khí hậu, thổ nhưỡng tại địa phương.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT  và đoàn công tác thăm mô hình giống lúa QS88
          Giống lúa QS88 (DT88) là kết quả của đề tài Nghiên cứu chọn tạo giống lúa kháng bệnh bạc lá bằng chỉ thị phân tử (Giai đoạn 2) thuộc chương trình Công nghệ sinh học trong Nông nghiệp. Giống có các đặc điểm chính như: Giống lúa QS88 (DT88)  là giống lúa chất lượng kháng bệnh bạc lá (mang 2 gen kháng), được chọn tạo bằng phương lai kết hợp chỉ thị phân tử. TGST trong vụ xuân 125-130 ngày, vụ mùa 100-105 ngày, dạng cây gọn, thân cứng, lá đứng lòng mo. Giống có khả năng chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá, chống chịu tốt với bệnh bạc lá (điểm đánh giá 1-3). Giống DT88 có dạng hạt gạo dài trên 7mm, hàm lượng amylose khoảng 13,4%, cơm mềm ngon, dẻo, đậm. Năng suất trung bình trong vụ Xuân đạt khoảng 65 - 70 tạ/ha, Vụ Mùa đạt khoảng 56 - 66 tạ/ha. Giống đã được công nhận giống sản xuất thử 1/2019. Giống đã được sản xuất thử tại 17 tỉnh phía Bắc (Cao Bằng, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Nghệ An với tổng diện tích trên 1000 ha.
Giống lúa CNC11 là giống lúa chất lượng cao đã được Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Cây trồng Quốc gia đánh giá tương đương giống Bắc Thơm 7 về chất lượng gạo và chất lượng nấu nướng, được chọn tạo bằng phương pháp đột biến thực nghiệm (nguồn Co60). TGST trong vụ xuân 120-125 ngày, vụ mùa 95-100 ngày, dạng cây gọn, than cứng, lá đứng. Giống có khả năng chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá, chống chịu tốt với bệnh đạo ôn (điểm đánh giá 1-3), nhiễm nhẹ với bệnh bạc lá (điểm 3). Giống CNC11 có dạng hạt gạo thon dài, hàm lượng amylose khoảng 13 – 14 %, cơm mềm ngon, dẻo, vị đậm. Năng suất trung bình trong vụ Xuân đạt khoảng 65 - 68 tạ/ha, Vụ Mùa đạt khoảng 55 - 65 tạ/ha. Giống được công nhận chính thức tháng 5/2019. Giống đã được sản xuất tại các tỉnh phía Bắc (Yên Bái, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình,Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An với tổng diện tích cho đến nay khoảng 1500 ha.
Đoàn công tác đến thăm mô hình giống lạc kháng bệnh đốm muộn
Đoàn công tác đến thăm mô hình giống lạc kháng bệnh đốm muộn 
          Giốnglạc ĐM1 là kết quả của đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống lạc kháng bệnh đốm lá muộn nhờ chỉ thị phân tử Giai đoạn II”  thuộc chương trình Công nghệ sinh học trong Nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2020, được chọn tạo bằng phương pháp truyền thống kết hợp với Công nghệ Sinhhọc. Giống có các đặc điểm chính như: thời gian sinh trưởng ngắn vụ Xuân là 115 - 120 ngày, vụ Hè Thu từ 95 – 105 ngày, tương đương giống đối chứng L14. Giống có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, mang gen kháng bệnh đốm lá muộn đã được xác định nhờ chỉ thị phân tử. Giống lạc ĐM1 đạt năng suất 33,7 - 39,0 tạ/ha trong vụ Xuân và 30,0 - 34,0 tạ/ha trong vụ Thu Đông, vượt đối chứng từ 11,3 – 23,8%, có chất lượng cao hơn so với giống lạc L14, hàm lượng protein thô là 36,35%, cao hơn giống lạc L14 là 18,71%, hàm lượng lipit đạt 49,97%, cao hơn giống lạc L14 là  9,83%. Giống nhiễm nhẹ với một số sâu bệnh hại chính như gỉ sắt, héo xanh, đốm nâu…
            Giống lạc ĐM4 là kết quả của đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống lạc kháng bệnh đốm lá muộn nhờ chỉ thị phân tử Giai đoạn II”  thuộc chương trình Công nghệ sinh học trong Nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2020, được chọn tạo bằng phương pháp truyền thống kết hợp với Công nghệ Sinh học. Giống có các đặc điểm chính như: mang gen kháng bệnh đốm lá muộn đã được xác định nhờ chỉ thị phân tử, thời gian sinh trưởng: 117 - 120 ngày trong vụ Xuân và 95 - 100 ngày trong vụ Thu Đông; năng suất đạt 31,7 - 38 tạ/ha trong vụ Xuân và 28,7 – 35,0 tạ/ha trong vụ Thu Đông, vượt đối chứng từ 9,7 – 20,8%; .nhiễm nhẹ với một số sâu bệnh hại chính như gỉ sắt, héoxanh, đốm nâu…
Là cơ quan trực thuộc Viện KHNNVN, trong giai đoạn 2015-2020, Viện DTNN đã chủ trì và hoàn thành nhiều đề tài/dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ, đề tài sử dụng nguồn vốn WB; các đề tài  cấp cơ sở, cấp địa phương và HTQT. Cụ thể giai đoạn 2015 – 2020, Viện DTNN đã chủ trì 69 đề tài, dự án, trong đó có 17 đề tài, dự án thuộc Chương trình Công nghệ sinh học Nông nghiệp - Thủy sản - Chế biến, 1 dự án thuộc Chương trình Nông nghiệp ứng dụng CNC; 3 đề tài, dự án thuộc Chương trình Sản phẩm quốc gia, 3 đề tài thuộc Chương trình Trọng điểm cấp Bộ, 16 Đề tài KHCN cấp Bộ, 2 đề tài quỹ gen, 6 đề tài độc lập cấp quốc gia, 7 đề tài nghiên cứu cơ bản, 1 đề tài do Bộ Công thương quản lý, 4 nhiệm vụ theo Nghị định thư, 3 nhiệm vụ HTQT và 15 đề tài hợp tác với địa phương.
Với việc áp dụng phương pháp chọn giống truyền thống kết hợp với công nghệ sinh học hiện đại, Viện DTNN đã chọn tạo và đưa vào sản xuất 121 giống mới, trong đó 109 giống cây trồng các loại (48 giống lúa, 11 giống đậu tương, 3 giống rau, 16 giống hoa, 17 giống cây ăn quả và 14 giống cây trồng khác), 12 giống nấm và 22 quy trình tiến bộ kỹ thuật cấp Bộ đã được công nhận và áp dụng trong sản xuất. 26 giống cây trồng đã được cấp bằng bảo hộ giống. Trong giai đoạn 2015-2020, Viện DTNN đã chọn tạo và đưa vào sản xuất được 41 giống cây trồng các loại, trong đó bao gồm: 22 giống lúa (11 giống chính thức, 11 giống sản xuất thử), 2 giống đậu tương (1 chính thức, 1 sản xuất thử), 3 giống hoa, 4 giống cam (2 giống chính thức, 2 giống sản xuất thử ), 2 giống bơ (1 giống chính thức, 1 giống sản xuất thử), 2 giống nấm, 2 giống mía, 2 giống sắn, 2 giống lạc, bảo vệ 4 tiến bộ kỹ thuật cấp Bộ, được cấp bằng bảo hộ cho 19 giống cây trồng các loại.
Cụ thể như sau:
Giống lúa
          Trong giai đoạn 2015-2020, Viện đã nghiên cứu chọn tạo được 22 giống lúa gồm 11 giống được công nhận giống chính thức, 11 giống sản xuất thử và nhiều dòng, giống triển vọng.
+ Các giống lúa mới chất lượng thích ứng rộng, được chọn tạo bằng phương pháp chọn giống truyền thống và phương pháp đột biến: Viện đã xây dựng được bộ giống gồm hàng chục giống lúa chất lượng cao đa dạng, phong phú, thích ứng với các nhu cầu khác nhau của xã hội. Đó là các giống lúa dòng hạt tròn Japonica như J01, J02, J03, TBJ3…có chất lượng, năng suất cao, chống chịu khá với các loại sâu bệnh, thích ứng rộng, mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội cho người trồng nhờ có chất lượng cao phù hợp thị hiếu tiêu dùng. Các giống lúa hạt dài, chất lượng cao như QR15, Sơn Lâm 1, CNC11, KX2… đáp ứng yêu cầu về gạo chất lượng cao phục vụ cho nội tiêu, xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
+ Các giống lúa năng suất, chống chịu được chọn tạo bằng phương pháp chỉ thị phân tử kết hợp chọn giống truyền thống: giống DT66, DT80, DT82, DT88 (kháng bạc lá), DT80 chịu mặn, giống KR1 (kháng rầy nâu), các giống lúa SHPT2; SHPT3, SHPT6, HL5 chịu ngập, chịu mặn. Đến nay Viện đã đưa ra hàng loạt các giống chịu ngập hoàn toàn 15 – 18 ngày, chịu mặn từ 0,4-0,8%, một số giống đã được triển khai trên các vùng nhiễm mặn nặng ở ĐBSCL. Sắp tới, các giống chịu ngập của Viện DTNN sẽ áp dụng đại trà tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.
Trong cơ cấu bộ giống đặc biệt đa dạng như hiện nay, cạnh tranh giữa các giống là rất khốc liệt, sự lựa chọn của người nông dân là thước đo chuẩn xác nhất về giá trị ứng dụng của sản phẩm.
Giống đậu tương
          Viện đã chọn tạo được 11 giống đậu tương, trong đó có 07 giống được công nhận giống chính thức, 04 giống được công nhận giống sản xuất thử. Các giống đậu tương do Viện cho tạo đến nay vẫn là bộ giống được gieo trồng chủ yếu, chiếm diện tích khoảng 70% diện tích trồng đậu tương cả nước và khoảng 90% diện tích các tỉnh phía Bắc. Trong giai đoạn 2015-2020, Viện đã chọn tạo được 3 giống đậu tương mới, có tiềm năng năng suất và hàm lượng dinh dưỡng cao: Giống DT2008 thuộc nhóm giống trung ngày, năng suất cực cao, khả năng chống chịu tốt với nhiều yếu tố bất lợi. Giống đậu tương DT2010 có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được 3 vụ/năm, khả năng thích ứng rộng với các vùng sinh thái khác nhau. Ngoài ra, giống đậu tương đen DT215 có chất lượng các chất chống oxi hóa cao, được ưa chuộng làm thực phẩm, thực phẩm chức năng và dược liệu.
Giống hoa
Giai đoạn 2015 – 2020, Viện đã chọn tạo thành công 03 giống hoa mới. Hiện tại, Viện DTNN có bộ giống hoa đa dạng, có bộ giống hơn 100 giống hoa hồng Bungari, hiện đang tiến hành 03 đề tài cấp tỉnh ứng dụng các giống hoa chọn tạo, góp phần nâng cao cảnh quan, thu hút du lịch cho các địa phương.
Giống cây ăn quả
          Viện đã tuyển chọn và đưa vào sản xuất bộ giống cam quýt chất lượng cao có thời gian thu hoạch rải vụ, từ chín sớm, chín trung bình đến chín muộn, tăng đáng kể thu nhập của người trồng, giai đoạn 2015-2020, Viện đã chọn tạo được 2 giống cam CT9, CT36 là giống chính thức, là những giống không hạt, sạch bệnh, được triển khai rộng ở các tỉnh Hòa Bình, Yên Bái, Điện Biên, Phú Thọ, Bắc Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Cao Bằng, Lào Cai, Gia Lai, Đắc Lắc,.....
Các giống cây ăn quả khác như giống bơ BOOTH7, bơ REED... đều được ứng dụng đại trà vào sản xuất và đem lại nguồn lợi nhuận cao cho người nông dân.
Giống nấm ăn, nấm dược liệu
Nấm ăn và nấm dược liệu là một lĩnh vực đặc thù mà Viện Di truyền Nông nghiệp có một vị trí đặc biệt. Viện đã tuyển chọn được 12 giống nấm ăn chất lượng cao, trong đó có 3 giống đã được công nhận giống chính thức và 09 giống được công nhận sản xuất thử. Giai đoạn 2015-2020, Viện đã chọn tạo được 1 giống nấm sò và 1 giống nấm mỡ. Các giống nấm này đã được sản xuất, chuyển giao công nghệ nhân giống và nuôi trồng cho nhiều tỉnh trên cả nước. Đã xây dựng thành công quy trình nhân giống nấm dạng dịch thể, rút ngắn được thời gian ươm sợi, giá thành chủng giống thấp hơn và thuận lợi trong việc sản xuất nấm quy mô công nghiệp.
Đã thu thập và lưu giữ 118 nguồn gen giống nấm ăn và nấm dược liệu.
Hàng năm, tại Viện Di truyền Nông nghiệp đều tiến hành nhiều khóa giảng dạy, thực hành, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật các quy trình nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu cho các cán bộ quản lý nông nghiệp và người dân tại nhiều địa phương trong cả nước. Xây dựng Hệ thống giống nấm chất lượng cao trên toàn quốc, tạo các giống nấm mới, xây dựng mô hình sản xuât nấm theo phương thức công nghiệp. Đặc biệt Viện đang triển khai chương trình sản phẩm QG về nấm, đã hoàn thiện được một số qui trình công nghệ mới về nhân giống dịch thể, triển khai sản xuất quy mô đại trà đạt kết quả tốt. 
 Giống Mía
          Viện đang lưu giữ 94 giống mía xuất sắc của thế giới và liên tục chuyển giao cho các đia phương, nhà máy đường. Các giống này cùng công nghệ sản xuất giống sạch bệnh và tưới nước tiết kiệm giúp tăng năng suất mía đường lên gấp đôi. 
           Giai đoạn 2015-2020, Viện đã chọn tạo được 2 giống mía LS1 và LS2, là các giống có năng suất tiềm năng lên đến 150-200 tấn/ha, trữ đường đạt 13-15% đã được nhân giống ở quy mô công nghiệp, cung cấp cây giống in vitro cho các vùng trồng mía ở các tỉnh Bắc Trung Bộ mang lại hiệu quả cao cho người trồng mía.
          Viện cũng đã ứng dụng và triển khai thành công một số chế phẩm sinh học cho cây trồng và thủy sản cho các địa phương trên cả nước: AT® Ketomium, AT® vi sinh, AT® xử lý rơm rạ, AT® xử lý ao nuôi, AT® aqua xử lý đáy ao…Ứng dụng thành công vi khuẩn nội sinh phân hủy N-acyl-L-homoserine lactones (AHLs) để phòng trừ bệnh thối nhũn khoai tây. Xây dựng các quy trình chẩn đoán sớm virus gây bệnh lúa lùn sọc đen bằng ELISA, chẩn đoán bệnh chổi rồng ở cây sắn. Viện cũng đang thực hiện các đề tài cấp nhà nước trong lĩnh vực này và tạo được thành công 1 chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh đốm nâu trên cây thanh long, 1 chế phẩm vi sinh giúp bảo quản sữa tươi.
          Viện đã nghiên cứu xây dựng được 40 phương pháp phát hiện và định lượng các sinh vật và sản phẩm biến đổi gen, phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước về lĩnh vực này.
    Viện DTNN đã xây dựng và chuyển giao thành công hàng chục mô hình nhân giống cấy mô các giống mía, chuối, hoa, khoai môn, khoai sọ tầng vàng..., cung cấp cây giống in vitro sạch bệnh cho các cơ sở địa phương của các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Nội... Trong những năm gần đây Viện đang hợp tác với các tỉnh như: Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Nghệ An, các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên chuyển giao các mô hình lúa chất lượng cao, mô hình sản xuất giống đậu tương, khoai môn sọ.
    Viện DTNN đã phối hợp với tỉnh Bắc Giang trong việc phục tráng giống lạc đỏ bản địa và trồng thử nghiệm một số giống lạc đen nhập nội từ Đài Loan. Với tỉnh Hòa Bình, Viện đã xây dựng mô hình phát triển một số giống bí ngồi nhập nội có năng suất, chất lượng cao, ít sâu bệnh, phù hợp cho sản xuất rau chất lượng tại địa phương.
Viện liên tục triển khai các mô hình khảo nghiệm, sản xuất thử các dòng/giống cây trồng có triển vọng do Viện chọn tạo như lúa DT66, DT80, DT82, DT88, CNC11, các giống lúa chịu ngập SHPT2, SHPT3, SHPT6, HL5,  mía cao sản LS1, LS2, , cam ngọt ít hạt CT36, CT9, đậu tương siêu năng suất DT2008, DT 2010, DT215, DT218,... tại các vùng sinh thái khác nhau trên cả nước đạt kết quả tốt, mang lại hiệu quả kinh tế, đước các địa phương đánh giá cao.
Đã hợp tác liên kết với các doanh nghiệp, công ty để chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, các giống cây trồng mới vào sản xuất. Viện đã chuyển nhượng bản quyền tác giả và hợp đồng sản xuất hạt giống các giống lúa với các doanh nghiệp:
- Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Thương mại Phú Thái, Hà Nội (Giống lúa TBJ3)
- Công ty CP giống cây trồng Thanh Hóa ( giống lúa chất lượng DT80);
- Công ty CP Đại thành (giống lúa chịu ngập SHPT2);
- Công ty Hạt giống Việt (giống lúa chịu ngập SHPT6).
- Công ty TNHH MTV giống cây trồng Quảng Bình (DT88)
          Viện đã ký hợp đồng hợp tác chiến lược về nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật với một loạt công ty giống trong cả nước, như Tổng Công ty Giống Cây trồng Trung Ương, Công ty giống Thái Bình, Công ty giống miền Nam, Tập đoàn Lộc Trời; Tổng công ty Mía đường Thành Công, công ty dược Nam Dược,...
          Trung tâm Nghiên cứu & phát triển Nấm đã chuyển giao công nghệ về sản xuất giống, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ các loại nấm ăn, nấm dược liệu cho 45 đơn vị (các công ty, Trung tâm ƯDKH&CN, Trung tâm UDTBKHCN các tỉnh) và các địa phương trong cả nước Trung tâm đã đầu tư phát triển vùng sản xuất nấm mỡ và nấm rơm xuất khẩu tại các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Hải Phòng, …  đạt sản lượng trên 600 tấn nấm cung cấp cho Nhà máy đóng hộp nấm Nam Tiến. Đào tạo 160 khoá học về công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu tại Hà Nội và hàng trăm khoá học tại các địa phương.
 Một số hình ảnh chuyến thăm mô hình: